Kỹ thuật chăm sóc cao su trồng mới, KTCB và phòng trừ sâu bệnh cao su vùng núi phía Bắc PDF. In Email
Thứ sáu, 01 Tháng 10 2010 15:00

Trong giai đoạn đầu KTCB phải tỉa chồi có kiểm soát. Năm thứ nhất chỉ tỉa chồi ngang khi tầng lá trên cùng ổn định. Từ năm thứ hai tiến hành tỉa chồi có kiểm soát, ở hai tầng lá ổn định trên cùng của cây luôn để lại 2 - 3 chồi/tầng cùng phát triển. Lưu lại cành từ độ cao 2,5 m để định hình tán.

1

Chăm sóc cao su trồng mới và KTCB

Đối với cao su trồng mới, sau khi trồng, phải làm sạch cỏ theo bồn kết hợp tạo đường đồng mức, không kéo đất ra khỏi gốc cao su và làm cỏ 3 lần/năm. Ngoài ra, thường xuyên tỉa chồi thực sinh nhằm giúp tược ghép phát triển tốt. Còn với cao su KTCB, từ năm thứ hai trở đi, làm cỏ theo băng kết hợp hoàn thiện đường đồng mức. Làm cỏ 3 lần/năm, từ năm thứ sáu trở đi làm cỏ 2 lần/năm, ưu tiên trừ cỏ bằng thuốc diệt cỏ. Giữa hàng cao su tuyệt đối không cày ở vùng đất có độ dốc bình quân hơn 10O. Trên đất bằng chỉ cày giữa hàng khi cần làm đất trồng xen hoặc thiết lập thảm phủ, khoảng cách đường cày đến hàng cao su tối thiểu là 1,5 m.

Trong giai đoạn KTCB phải tủ gốc cho cây bằng vật liệu thực vật hoặc màng phủ nông nghiệp (PE), trước khi tủ gốc phải xới phá váng lớp đất mặt quanh gốc. Từ năm thứ hai đào hố đa năng trên hàng cao su, số lượng hố bằng một nửa số cây trồng. Hố đa năng có kích thước dài 80 cm, rộng 40 cm và sâu 30 cm. Bố trí hố đào trên hàng sát taluy dương giữa hai cây cao su, cách hai cây đào một hố. Thường xuyên bổ sung cỏ vào hố sau mỗi lần chăm sóc. Hố được dùng làm điểm bón phân từ năm thứ ba đến năm thứ tư đối với đất dốc 10O và làm điểm bón phân từ năm thứ ba cho đến hết chu kỳ thu hoạch mủ đối với đất dốc >10O. Từ năm thứ tư, với đất có độ dốc bình quân 10O, hố đa năng được đào giữa hai hàng cao su theo dạng nanh sấu, đối với đất dốc bình quân >10O, duy trì các hố đã đào từ năm thứ hai cho đến hết chu kỳ thu hoạch mủ. Cao su trong thời kỳ KTCB phải được bón phân vô cơ và hữu cơ, tất cả các loại phân bón phải được kiểm định chất lượng theo quy định của VRG. Phân vô cơ, bón từ 2 – 3 lần/năm, bón khi đất đủ ẩm, không bón phân vào thời điểm có mưa lớn, mưa tập trung. Từ năm thứ 2 đến năm thứ 3, phân hữu cơ được bón vào hố dọc hai bên hàng cao su theo hình chiếu của tán lá, lượng phân 1 - 2 kg/cây/năm, bón một lần vào đầu mùa mưa. Từ năm thứ 4 trở đi, phân được bón vào hố đa năng.

Trong giai đoạn đầu KTCB phải tỉa chồi có kiểm soát. Năm thứ nhất chỉ tỉa chồi ngang khi tầng lá trên cùng ổn định. Từ năm thứ hai tiến hành tỉa chồi có kiểm soát, ở hai tầng lá ổn định trên cùng của cây luôn để lại 2 - 3 chồi/tầng cùng phát triển. Lưu lại cành từ độ cao 2,5 m để định hình tán. Mỗi vị trí phân cành trên thân chính chỉ giữ lại một cành. Đối với những cây phát triển quá chậm, thân bị tổn thương, cong vẹo, có thể lưu lại cành từ độ cao 2 m. Hàng năm vào đầu mùa khô tiến hành phòng chống cháy cho lô cao su. 

Các loại sâu bệnh và biện pháp xử lý

Cây cao su có thể bị bệnh trên các bộ phận như lá, cành, thân, rễ. Trước hết, chúng tôi nêu ra những loại bệnh trên lá và cách xử lý.

Bệnh phấn trắng lá do nấm Oidium heveae Steinm gây ra. Bệnh gây rụng lá non và hoa cao su trên mọi lứa tuổi. Triệu chứng nhận biết là trên lá bị bệnh có nấm màu trắng ở hai mặt lá. Phương pháp xử lý: Đối với vườn nhân, vườn ương và KTCB, sử dụng một trong hai loại thuốc là bột lưu huỳnh thấm nước (Kumulus, Sulox) nồng độ 0,3%, hexaconazole (Anvil 5SC, Callihex 50SC) nồng độ 0,15% hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole (Arivit 250SC, Vixazol 275SC...) nồng độ 0,2%. Phun thuốc lên tán lá khi có 10% lá non nhú chân chim trên vườn và ngừng phun khi 80% lá đã già. Thực hiện phun thuốc 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 - 7 ngày vào buổi sáng ít gió. Đối với vườn cây đang thu hoạch mủ, áp dụng biện pháp xử lý gián tiếp như tăng cường phân bón vào cuối mùa mưa.

Bệnh héo đen đầu lá phân bố khắp các vùng trồng cao su và tập trung vào mùa mưa. Bệnh gây hại cho lá non và chồi non có thể dẫn đến chết chồi và chết ngọn. Triệu chứng bệnh là gây rụng lá non dưới hai tuần tuổi, lá già không rụng thì méo mó, mặt lá gồ ghề. Bệnh gây khô ngọn, khô cành từng phần hoặc chết cả cây. Xử lý bệnh bằng cách: Sử dụng một trong các loại thuốc sau: carbendazim (Vicarben 50SC, Carbenzim 500FL…) nồng độ 0,2% hoặc hexaconazole (Anvil 5SC) nồng độ 0,15% hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole (Anvil 250SC, Vixazol 275SC) nồng độ 0,2%. Phun thuốc lên tán lá khi có 10% lá non nhú chân chim trên vườn và ngừng phun khi 80% lá đã già, chu kỳ phun 7 - 10 ngày/lần.

Bệnh rụng lá mùa mưa và thối trái cao su do nấm Phytophthora botryosa Chee và P. palmivora. Bệnh thường xảy ra trong mùa mưa, mức độ gây hại khác nhau tùy từng vùng và dòng vô tính. Triệu chứng của bệnh là trên cuống lá bị rụng có một hoặc nhiều cục mủ trắng, trái cao su nhiễm bệnh thì bị thối, không rụng. Nấm cũng gây chết tược ghép mới trồng và chết cây con ở vườn nhân, vườn ương. Bệnh cũng lây xuống mặt cạo, do đó khi vườn cây bị bệnh rụng 50% tán lá thì phải giảm nhịp độ cạo hoặc cho nghỉ cạo trong mùa rụng lá nặng. Biện pháp xử lý: vườn cao su non bị bệnh thì sử dụng Ridomil MZ-72WP, Mexyl MZ-72WP nồng độ 0,1 - 0,2% để trị. Nếu chồi non nhiễm bệnh phải cắt bỏ phần bị thối và bôi thuốc Ridomil MZ-72WP, Mexyl MZ-72WP nồng độ 2% sau đó bôi vaselin. Trên vườn cây thu hoạch mủ, khi bệnh rụng lá mùa mưa xuất hiện thì bôi thuốc Ridomil MZ-72WP, Mexyl MZ-72WP nồng độ 2% để xử lý bệnh loét sọc mặt cạo.

Bệnh Corynespora do nấm Corynespora cassiicola gây nên. Bệnh xuất hiện quanh năm và mọi giai đoạn sinh trưởng của cây cao su, gây hại cho các dòng vô tính cao su mẫn cảm. Bệnh gây hại trên lá và chồi, làm chết cây con vườn ương, giảm tỷ lệ mắt ghép hữu hiệu của vườn nhân, giảm sinh trưởng cây KTCB và đôi khi gây chết cây. Triệu chứng thường gặp, xuất hiện trên lá, cuống lá và chồi với những triệu chứng khác nhau: Trên lá, triệu chứng đặc trưng của bệnh là có vết bệnh màu đen hình dạng xương cá chạy dọc theo gân lá. Vết lan rộng gây chết từng phần lá, sau đó toàn bộ lá đổi màu vàng cam và rụng từng lá chét một. Trên chồi và cuống lá, vết nứt dọc theo chồi và cuống lá dạng hình thoi, có mủ rỉ ra sau đó hóa đen, vết bệnh có thể phát triển dài đến 20 cm gây chết chồi, chết cả cây.  Trên gỗ có sọc đen chạy dọc theo vết bệnh. Trên cuống lá có vết nứt màu đen chiều dài 0,5 - 3,0 mm. Xử lý: Không trồng các dòng vô tính mẫn cảm như RRIC 103, RRIC 104, RRIM 725, RRIV 4,... Dùng một trong các loại thuốc như hexaconazole (Anvil 5SC, Callihex 50SC…) nồng độ 0,15%, Propineb 50WP nồng độ 0,5% hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole (Arivit 250SC, Vixazol 275SC…) nồng độ 0,2 - 0,3% để trừ nấm. Cần chú ý phun mặt dưới lá với chu kỳ 10 - 14 ngày/lần, từ 2 - 3 lần đến khi triệu chứng bệnh ngưng phát triển.

Bệnh đốm mắt chim thường xảy ra trên cây thực sinh trong vườn ương, nhất là vùng đất trũng, xấu. Bệnh gây hại cho lá non và chồi non có thể làm cây sinh trưởng kém dẫn đến tỷ lệ sử dụng làm gốc ghép thấp. Triệu chứng bệnh là vết bệnh có màu trắng ở trung tâm và viền màu nâu rõ rệt bên ngoài. Trên lá non gây biến dạng và rụng từng lá một, trong khi trên lá già vết bệnh tồn tại trong suốt giai đoạn sinh trưởng của lá. Xử lý bằng cách dùng thuốc gốc mancozeb (Dithane M-45...) nồng độ 0,3%, hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole (Arivit 250SC, Vixazol 275SC...) nồng độ 0,2 - 0,3%. Chỉ phun trên tầng lá non với chu kỳ 7 - 10 ngày/lần.

Bình Nguyên

 (Theo tài liệu của Viện NCCSVN)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: